Dịch vụ tư vấn về Luật di chúc, kế thừa

26/12//18
Dân sự
Không có phản hồi
Di chúc là một giấy tờ hợp pháp thể hiện nguyện vọng, mong muốn của một người về cách phân chia tài sản mình có được sau khi chết. Trong di chúc, cá nhân hoặc nhóm người được chỉ định là người thực thi, quản lý tài sản cho đến khi được phân chia hết đúng theo di chúc của chủ di chúc
Người được thừa hưởng những gì mà trong di chúc được viết là người thừa kế, chỉ được thừa kế đúng với nguyện vọng của chủ di chúc. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (Điều 613 BLDS 2015). Tất cả đều có quyền từ chối thừa kế. Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, “Thừa kế theo di chúc” là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc.
Nói đến Tư vấn Luật Thừa kế / Di chúc là nói đến pháp luật quy định về tài sản và  hiện nay có khá nhiều người vẫn còn lúng túng hay chỉ biết mơ hồ về luật thừa kế tài sản, di chúc và viết di chúc. Để giúp khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề này, công ty Luật hợp danh V.I.P có bài viết sau về dịch vụ tư vấn luật di chúc, thừa kế.
Bộ luật này công ty luật chúng tôi chia ra làm 3 mục nhỏ
     1. Tư vấn luật thừa kế
Luật thừa kế là một trong những chế định cơ bản trong Luật dân sự Việt Nam. Lĩnh vực pháp lý liên quan đến thừa kế là không quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến thừa kế lại diễn ra khá nhiều.
Tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết) thì di sản do người đó để lại được chia theo di chúc hoặc theo pháp luật. Và người thừa kế được xác định như sau:
– Là người được người để lại di sản định đoạt theo di chúc (nếu có di chúc).
– Là người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự: những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Khi xác định người thừa kế nêu trên thì còn phải căn cứ theo các quy định sau:
Quy định tại Ðiều 635 Bộ luật Dân sự về người thừa kế: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Quy định tại Ðiều 641 Bộ luật Dân sự về việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm: Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Ðiều 677 của Bộ luật này.
Ðiều 677 Bộ Luật Dân sự về thừa kế thế vị: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống).
      2. Tư vấn luật thừa kế hợp pháp
Lập di chúc như thế nào hợp pháp? Di chúc có hiệu lực khi người lập di chúc là người còn khả năng hành vi dân sự và là chủ của di sản lập di chúc hoặc là người quyết định di sản
Người lập di chúc phải là người còn minh mẫn, tự nguyện và về mặt hình thức giấy tờ được đầy đủ và đảm bảo
3.Di chúc vô hiệu là di chúc không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định hoặc các quy định khác của pháp luật không liên quan đến điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Về nguyên tắc, một di chúc muốn phát sinh hiệu lực pháp lý phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Nếu di chúc vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của di chúc thì di chúc vô hiệu.
Bên cạnh đó, người được hưởng chỉ định di sản theo di chúc có thể chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế… Trong những trường hợp này di chúc cũng không phát sinh hiệu lực pháp lý.
Như vậy, di chúc vô hiệu là di chúc không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định hoặc các quy định khác của pháp luật không liên quan đến điều kiện có hiệu lực của di chúc. Tùy theo từng trường hợp mà xác định mức độ vô hiệu của di chúc. Di chúc không hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng có thể bị coi là vô hiệu một phần.